|
| Ảnh: Phùng Thanh |
Một lần tôi đến thăm gia đình cậu mợ. Tới gần cổng, tôi nghe tiếng la mắng dữ dội, cậu tôi bê cả mâm cơm định hất vào người Kiểm - con trai độc nhất của cậu. Mợ tôi đứng trước cậu, đỡ lấy cái mâm, nói dịu dàng: “Anh bớt giận, từ từ dạy con, để mâm cơm xuống đây, em đang đói mà.” Cơn nóng giận của cậu cũng vơi dần.
Mợ tươi cười gọi tôi: “Cháu ngồi vào ăn cơm với cậu mợ đi, cậu nóng một chút thôi mà.” Mợ dìu cậu lên võng, rồi ôn tồn: “Anh nghỉ một chút đừng nóng nảy, mà cháu nó sợ tội nghiệp.” Rồi mợ lẹ làng chế một cốc bột sắn dây với nước đường, trao vào tay cậu. Bà tìm cách vỗ về, an ủi tôi và Kiểm cùng ăn cơm.
Dường như cơn giận của ông đã tan biến. Bưng cốc bột sắn, ngồi xuống bên mâm cơm gia đình, cậu vui vẻ hỏi thăm tôi về sức khỏe của cha mẹ và sinh hoạt của gia đình tôi. Ông tỏ ra hối hận, lấy thêm thức ăn bỏ vào bát cơm cho Kiểm và tôi.
Sau này tôi mới hiểu lý do cậu tôi nổi nóng hôm đó, vì Kiểm đánh đổ cả lọ mực vào tập giấy trắng mới mua. Vào thời ấy, giấy mực khó mua và đắt lắm! Tuy nhiên, tôi vẫn khó chịu trước hành động gần như hung bạo của cậu tôi thật vô lý.
Thực ra, Kiểm là người không có lỗi. Ngày trước mẹ tôi kể: cậu tôi mồ côi ông ngoại từ nhỏ. Cậu rất hiền lành. Một lần cậu đi kiếm củi trên dốc Cao Điền, bị ngã đập đầu vào đá. Người làng ẵm cậu về, trong tư thế bất tỉnh nhân sự.
Một ông thầy thuốc Nam gia truyền giã nắm lá cây hòa với nước gạo, lấy chiếc đũa cả cậy răng, rồi đổ thuốc vào miệng cậu. Nhờ phương thuốc ấy, năm phút sau cậu tôi tỉnh lại. Từ đấy, mỗi lần gặp chuyện bức xúc là cậu nổi cơn điên, sẵn sàng đập phá đánh người trong cơn vô thức. Mọi người đều phải né tránh, nhưng trong họ ngoài làng đều thương cậu, vị nể bà ngoại tôi, nên không ai nỡ trách. Những lúc cậu nổi cơn điên, chỉ có bà ngoại và mợ tôi ngăn cản được. Thì ra, trong trái tim nhân bản, dù là kẻ điên khùng, vẫn mềm yếu, biết rung cảm vì lòng hiếu thảo, vì tình yêu thương cố hữu!
Mẹ còn kể với tôi rằng: Dù cậu là con nhà gia giáo, rất đẹp trai, cả làng ai cũng mến, nhưng chẳng cô gái nào dám nghĩ đến chuyện làm bạn đời của cậu, vì mỗi lần cậu nổi cơn điên, ai mà chẳng sợ hết vía! Lúc ấy mợ tôi đẹp nhất làng, bỏ qua nhiều mối mai oanh yến, mà chỉ một lòng yêu thương cậu. Tất nhiên, mợ tôi dễ dàng đạt được nguyện vọng.
Mợ là nàng dâu hiếu thảo, không những chỉ yêu chồng, mà còn kính yêu cha mẹ chồng, như người đã sinh ra chính mình. Ngay mẹ tôi, nếu theo câu tục ngữ, thì với mợ, mẹ tôi còn là “giặc bên Ngô” của mợ. Thế mà mẹ tôi lại rất yêu thương mợ (có lẽ mợ đã làm điều này trước cho mẹ tôi).
Mợ trồng rất nhiều sắn dây trong vườn, đến cuối năm, thường vào tháng Chạp, đào củ nghiền bột, để dành chế nước cho cậu uống. Thường vào mùa hè, khí hậu quê tôi rất khắc nghiệt, mợ cho cậu uống bột sắn, để chống lại bệnh tật. Ngoài ra, mợ hay nấu cháo hạt sen để chăm sóc cậu vào những ngày nông trang thời vụ, vất vả của nhà nông.
Các thầy thuốc đều nhận định: Cậu tôi sẽ phải mang chứng bệnh điên cho tới ngày về thế giới bên kia. Không ngờ, càng lớn tuổi, những cơn sốc của cậu tôi lại thưa dần và mức độ cũng từ từ thuyên giảm. Vào tuổi năm mươi, bệnh tâm thần của cậu tôi biến mất. Mọi người đều mừng cho cậu. Người sung sướng nhất là mợ tôi.
Những lúc rảnh rang, mợ hay kể cho các cháu nghe, rất tự hào về “thiên tình sử” của mình: Thời con gái, mợ cứ lén yêu thầm cậu, mà rất may, mợ cũng được cậu tôi yêu lại. Nhiều bạn gái của mợ cũng tranh chấp, cố tình theo đuổi cậu. Nhưng khi cậu bị tai nạn, những cô gái cơ hội đều lảng tránh. Riêng mợ lại càng thương cậu nhiều hơn.
Khi cậu mợ chuẩn bị làm lễ thành hôn, không ít lời đàm tiếu sau lưng. Có chàng trai từng theo đuổi mợ, còn gièm pha: “Em hám nó đẹp trai, có ngày lên cơn điên, nó đập cho em gẫy hết hai mươi bốn cái rẻ xương sườn đấy! Tỉnh lại đi, đừng mù quáng vì tình”. Thế mà căn bệnh tứ chứng nan y của cậu, chẳng có liều thuốc an thần nào hữu hiệu, bằng bàn tay mềm mại và trái tim nhân hậu của mợ tôi. Cậu sẵn sàng, ngoan ngoãn trao cho mợ những hung khí như: con dao, cái cuốc, cây gậy... mà cậu sử dụng để đánh đập người khác, khi cậu bị cơn điên hành hạ.
Cậu thích uống cà phê đá mà chỉ bàn tay mợ pha chế thì cậu mới uống. Thật tình mợ tôi chế cà phê rất khéo. Có lần, tôi được mợ chế cà phê, cho cùng uống với cậu.
Tôi không thể nào quên cảm giác ly cà phê bữa ấy: từng giọt đắng đen sậm, nhỏ chầm chậm, thánh thót, đặc sánh xuống ly... Khi nhấp ly cà phê vào miệng, hương thơm lành, vị đắng ngọt... thấm tận tâm can. Giọt cà phê mang hương vị, như có linh hồn, có tinh khí của trời đất, đang nỉ non, chia sẻ những vui buồn, sâu kín trong lòng mình vậy.
Cậu tôi thật diễm phúc. Tình yêu thương, đức nhẫn nhịn, sự thông minh, hiền thục của mợ, không phải chỉ là niềm an ủi cậu, mà còn là phương thuốc đặc trị đã giúp cậu tôi lành được căn bệnh nan y, trở thành người sống bình thường hòa nhập với gia đình và cộng đồng. Điều đó chắc chắn không thầy thuốc nào làm nổi.