(Những kỷ niệm của họa sĩ Trần Nhật Thăng về mẹ - NSƯT Thủy Hằng)
“Mẹ tôi rất khéo tay. Hình như ngày xưa, phụ nữ ai cũng khéo. Tôi nhớ, khi tôi khoảng 5-6 tuổi, mẹ kiếm đâu về những mảnh len vụn chỉ bằng bàn tay người lớn. Đêm nào mẹ cũng ngồi cặm cụi dỡ ra rồi nối sợi len lại thành từng cuộn, từng cuộn.
Từ những mẩu len chắp vá ấy, mẹ đan cho tôi một cái áo, hoa văn phối màu rất đẹp. Hình ảnh tôi nhớ nhất là mỗi lần đan xong một vòng, mẹ lại giơ cái áo lên ánh đèn, cầm một đầu que đan ấn mối nối vào trong. Cái áo được hoàn thành, mặt phải rất thời trang, ai nhìn cũng khen, như khi giở mặt trái ra thì chẳng khác gì lông con nhím. Hàng ngàn mối nối chi chít đều tăm tắp.
Bố tôi (đạo diễn Trần Văn Thủy) đi học ở Liên Xô từ lúc tôi mới chào đời cho đến khi tôi vào lớp 1. Ở nhà chỉ có hai mẹ con nên tôi rất quấn mẹ. Có một kỷ niệm mà mẹ tôi cứ nhắc mãi, lần nào kể, mẹ cũng cười nhưng mắt thì ngấn nước. Mẹ đi làm ở xưởng phim, tôi phải vào nhà trẻ. Hôm nào theo mẹ đến lớp tôi cũng nước mắt ngắn nước mắt dài và đứng ở cổng vẫy tay mãi: “Mẹ đừng quên con nhé!”.
Mẹ tôi thích nấu nướng, món gì mẹ làm cũng ngon. Những bữa cơm ngon miệng của tôi loanh quanh thịt kho tàu, thịt rang cháy cạnh mà mãi không chán. Mẹ dạy tôi biết nấu ăn từ sớm. 10 tuổi, có em, tôi đã biết nấu cơm, làm thức ăn phụ mẹ.
Bố tôi có khách, bất kể Tây, Tàu, mẹ đều thiết đãi thịnh soạn, cơm dẻo canh ngọt. Tôi ba mấy tuổi đầu, thỉnh thoảng về thăm mẹ, lần nào mẹ cũng hỏi: “Con ăn gì chưa?” Dù câu trả lời của tôi thế nào thì sau đó, mẹ vẫn lụi cụi vào bếp nấu nướng, ép tôi ăn bằng được.
Mẹ tôi luôn thân thiết với hàng xóm láng giềng như anh em trong nhà. Bây giờ, có bát canh ngon, bà vẫn thích mang sang hàng xóm mời. Thời bao cấp, son phấn khó kiếm, mẹ tôi là nghệ sĩ vốn sẵn những thứ ấy, hầu như toàn bộ các cô dâu trong khu tập thể đều do tay mẹ tôi trang điểm. Tính bà thích giúp đỡ người khác, rất thương người, trông thấy ăn mày là kiểu gì bà cũng rút ví. Nhà có bao nhiêu báo chí, vỏ lon bia, vỏ hộp, bà gom gom lại, đợi đồng nát đi qua là gọi vào cho.
Tôi gần với mẹ hơn bố, kể cả bây giờ cũng vậy. Ngày bé, bố tôi vắng nhà thường xuyên, mẹ vừa làm mẹ vừa làm bố. Tôi nhớ những buổi chiều mùa đông khi miền Bắc mới hòa bình, người dân Hà Nội xôn xao vì một bộ phim anh hùng của Liên Xô. Cả xóm chỉ một nhà có tivi. Biết tôi thích xem phim, chiều nào đi làm về, mẹ cũng vội vội vàng vàng thu xếp mọi việc rồi tất tả cõng tôi sang hàng xóm xem nhờ.
Bác tôi kể lại, có lần khu tập thể bị bỏ bom, người ta đã rào dây thép gai cấm dân vào trong để đảm bảo an toàn. Vì mấy bộ quần áo và đồ dùng của tôi, mẹ vẫn lén quay lại, bất chấp nguy hiểm, để đảm bảo tôi không bị đói, bị lạnh. Khi học mẫu giáo, tôi có biệt danh là “Thăng Tây”, rất hay bị bọn trẻ cùng lứa bắt nạt. Mỗi lần như vậy, mẹ lại đôn đáo tìm cách “giải vây” cho tôi, hoặc là để tôi chuyển trường.
Trong thâm tâm, có lẽ mẹ coi tôi như một người bạn nhỏ. Có những lần, vì buồn chuyện gì đó, mẹ chở tôi ra triền đê, trải một cái khăn mùi xoa bé tí cho tôi ngồi. Hai mẹ con cứ thế lặng im trong cái nắng chiều hanh hanh nhạt, buồn tê tái.
Khi tôi có gia đình riêng, không sống cùng bố mẹ nữa, mẹ vẫn coi tôi như một đứa trẻ cần phải bao bọc. Thỉnh thoảng, mẹ lại hỏi tôi còn tiền tiêu không? Những lúc rảnh, hai mẹ con vẫn thích ra quán cà phê ngồi tâm sự. Mẹ tôi không thiếu tiền nhưng khi nào tôi bán được tranh, biếu mẹ chút ít, bà rất cảm động. Có khi mẹ chẳng tiêu đến số tiền ấy nhưng dường như với mẹ, nó cho thấy tôi đã trưởng thành, có thể tự lập được.
Còn nhớ, có lần, tôi bán tranh được 300 USD, số tiền đủ cho một chuyến du lịch Thái Lan. Tôi về hỏi mẹ: “Mẹ có thích đi Thái Lan không? Con biếu mẹ một chuyến du lịch”. Thoạt tiên, mẹ tôi ngỡ ngàng, rồi bà gật đầu. Tôi không nghĩ rằng, việc ấy lại có thể làm mẹ vui đến vậy.
Mẹ tôi là một phụ nữ đẹp trong mắt nhiều người. Có người hỏi tôi: “Tiêu chuẩn đẹp của mẹ có phải là lý tưởng với anh không?”. Tôi trả lời: “Không”. Bởi mẹ là mẹ. Nghĩ về mẹ, tôi không nhìn thấy nhan sắc ấy. Trong tôi chỉ có một cảm giác ấm áp và dịu dàng, thương yêu hết mực”.